Đầu năm 1891, trong cuốn Phân chia lao động xã hội (De la division du travail social), Durkheim định nghĩa khái quát về “chủ nghĩa cá nhân hiện đại”. Theo đó, việc tôn trọng cá nhân con người được coi là chuẩn mực tối cao, là duy nhất, để có thể đảm bảo sự cố kết trong các xã hội công nghiệp hiện đại.
Bốn năm sau, trong cuốn Sự tự sát (Le suicide), ông viết “nếu vẫn còn một cái gì đó để loài người có thể chia sẻ với nhau, thì đó là việc tôn trọng con người như là con người, và sự tôn trọng đó là chất kết dính xã hội duy nhất vẫn còn tồn tại, sự ràng buộc xã hội chân chính duy nhất”.
Sau năm 1895, khi đã chứng minh rằng, tôn giáo tồn tại trong mọi xã hội, với chúa Trời (hay các vị thần linh) tượng trưng cho bản thân xã hội trong con mắt của các thành viên của xã hội, và rằng, “sự thiêng liêng” của tôn giáo thể hiện đặc tính siêu việt của tập thể, Durkheim đi đến kết luận: chính bản thân con người, với “tính nhân đạo” của mình, đã trở thành một “đức chúa của loài người”, một hình thức mới của sự thiêng liêng đối với bất kỳ loài động vật nào khác. Một bài báo viết năm 1898 nhan đề Chủ nghĩa cá nhân và những người trí thức trong tạp chí Xã hội khoa học và hành động, Durkheim định nghĩa hình thức mới này của chủ nghĩa cá nhân: “từ nay trở đi”, chủ nghĩa cá nhân cần được hình thành vững chắc thông qua những biến đổi về chính trị và xã hội.
“Chúng ta đang dần tiến đến một nhà nước, mà trong đó, các thành viên của bất kỳ nhóm xã hội nào cũng không có gì chung, ngoại trừ những phẩm chất đặc trưng mang tính con người của họ, thứ thuộc tính tạo dựng nên con người nói chung… Con người không còn gì để yêu thương và tôn trọng với nhau, ngoại trừ chính bản thân họ. Đây là cách thức con người trở thành một vị thần (đức Chúa) của chính mình và là lý do tại sao con người không thể tạo ra một thần linh nào khác cho mình. Và vì mọi người trong chúng ta đều phần nào có tính người trong mình, mỗi lương tâm cá nhân đều mang nét gì đó thánh thiện và in dấu một đặc điểm làm cho nó thiêng liêng và bất khả xâm phạm đối với những người khác”.
Durkheim đã rút ra những kết luận kinh tế chính trị của mình từ nhu cầu đi kèm với những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa xã hội hiện đại, công nhận những chuẩn mực cá nhân là cơ sở cho sự đồng thuận xã hội. Đặc biệt trong cuốn Những bài học về xã hội (Lecons de sociologie), ông phác thảo tổng thể hình dáng một xã hội “đang xuất hiện” mà ở mức độ kinh tế, sẽ vượt qua những xung đột giai cấp, mọi người được hưởng theo công lao và bảo đảm sự bình đẳng tối đa về cơ hội cho mọi người.