• Làm thế nào để trở thành đại lý cho 1 hãng mỹ phẩm cao cấp?

    Câu trả lời hay nhất: Bạn định làm đại lý cho hãng nào, hiện tôi đang có biết một số hãng của Hàn Quốc và Châu Âu bạn có thể liên lạc với tôi qua email: pham_ngoc_anh78@yahoo.com
    Câu trả lời hay nhất: Bạn định làm đại lý cho hãng nào, hiện tôi đang có biết một số hãng của Hàn Quốc và Châu Âu bạn có thể liên lạc với tôi qua email: pham_ngoc_anh78@yahoo.com
    2 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 9 năm trước
  • Visa là gì, vì sao cần visa, đăng kí nó ở đâu? Khi đăng kí cần mang theo giấy tờ gì? Đăng kí xong khi nào có?

    Câu trả lời hay nhất: Thị thực (hay thị thực nhập cảnh, tên cũ: chiếu khán, tên thông dụng: visa) là một dấu hiệu thể hiện rằng một người nào đó được phép nhập cảnh vào quốc gia cấp thị thực. Sự cho phép này có thể bằng một văn bản nhưng phổ biến là bằng một con dấu xác nhận dành cho đương đơn vào trong hộ chiếu của đương đơn. Một số quốc gia không... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Thị thực (hay thị thực nhập cảnh, tên cũ: chiếu khán, tên thông dụng: visa) là một dấu hiệu thể hiện rằng một người nào đó được phép nhập cảnh vào quốc gia cấp thị thực. Sự cho phép này có thể bằng một văn bản nhưng phổ biến là bằng một con dấu xác nhận dành cho đương đơn vào trong hộ chiếu của đương đơn. Một số quốc gia không đòi hỏi phải có thị thực khi nhập cảnh trong một số trường hợp, thường là kết quả thỏa hiệp giữa quốc gia đó với quốc gia của đương sự. Các quốc gia thường có các điều kiện để các cấp thị thực, chẳng hạn như thời hạn hiệu lực của thị thực, khoảng thời gian mà đương sự có thể lưu lại đất nước của họ. Thường thì thị thực hợp lệ cho nhiều lần nhập cảnh (tùy theo điều kiện) nhưng có thể bị thu hồi vào bất cứ lúc nào và với bất kỳ lý do gì. Thị thực có thể được cấp trực tiếp tại quốc gia, hoặc thông qua đại sứ quán hoặc lãnh sự quán của quốc gia đó, đôi khi thông qua một cơ quan chuyên môn, công ty du lịch có sự cho phép của quốc gia phát hành. Nếu không có đại sứ quán hoặc lãnh sự quán ở nước mình, đương đơn phải đến một quốc gia thứ ba có các cơ quan này. Về thủ tục cấp visa, tùy vào mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ sẽ có nhưng quy định riêng, bạn có thể liên lạc với Đại sứ quán nước nhập cảnh để hỏi thủ tục chi tiết, thông thường các đại sứ quán đều có 1 tổ cấp visa, và mọi Đại sứ quán đều đóng trên địa bàn Hà Nội, có 1 số quốc gia chưa đựoc công nhận (Ví dụ như Đài Loan) thì bạn phải đến cơ quan đại diện văn hóa và kinh tế để được cấp thị thực, hoặc 1 số quốc gia không cần visa nhập cảnh đối với công dân 1 số nước ví dụ như người đã có hộ chiếu EU thì có thể di chuyển tại các nước EU, hoặc AUS có thể di chuyển sang Newđilan và ngược lại, một số nước ASEAN cũng cho phép miễn thị thực ....
    10 câu trả lời · Xuất nhập cảnh · 9 năm trước
  • 1100USD/Oz= mấy chỉ vàng sjc?

    Câu trả lời hay nhất: OZ = Ounce 1 oz = Ounce ~ 8.3 chỉ ~ 31.103 gram 1 ct ~ 0.053 chỉ ~ 0.2 gram 1 lượng = 1 cây = 10 chỉ =37.5 gram. 1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram. 1 phân = 10 ly = 0.375 gram. 1 ly = 10 zem = 0.0375 gram. 1 zem= 10 mi = 0.00375 gram
    Câu trả lời hay nhất: OZ = Ounce 1 oz = Ounce ~ 8.3 chỉ ~ 31.103 gram 1 ct ~ 0.053 chỉ ~ 0.2 gram 1 lượng = 1 cây = 10 chỉ =37.5 gram. 1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram. 1 phân = 10 ly = 0.375 gram. 1 ly = 10 zem = 0.0375 gram. 1 zem= 10 mi = 0.00375 gram
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 9 năm trước
  • Làm thế nào để chuyển hàng từ Taiwan về Việt Nam?

    Câu trả lời hay nhất: Bạn gửi mail trực tiếp vào địa chỉ: pham_ngoc_anh78@yahoo.com mình sẽ tư vấn trực tiếp.
    Câu trả lời hay nhất: Bạn gửi mail trực tiếp vào địa chỉ: pham_ngoc_anh78@yahoo.com mình sẽ tư vấn trực tiếp.
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 9 năm trước
  • Bà con oi gia EXW trong xuất nhập khẩu là giá như thế nào?

    Câu trả lời hay nhất: Điều kiện EXW viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “Ex Works” dịch ra Tiếng Việt là “giao tại xưởng”. Trong điều kiện này, người bán giao hàng khi đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm quy định, hàng hoá chưa được thông quan xuất khẩu và chưa bốc lên phương tiện tiếp nhận.... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Điều kiện EXW viết tắt của thuật ngữ Tiếng Anh “Ex Works” dịch ra Tiếng Việt là “giao tại xưởng”. Trong điều kiện này, người bán giao hàng khi đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm quy định, hàng hoá chưa được thông quan xuất khẩu và chưa bốc lên phương tiện tiếp nhận. Người mua phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi rủi ro kể từ khi nhận hàng tại cơ sở của người bán. Khuyến cáo: - Nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm bốc hàng lên phương tiện chuyên chở tại địa điểm đi và chịu mọi rủi ro phát sinh trong quá trình bốc hàng mà không muốn chuyển sang điều kiện khác thì phải ghi rõ trong hợp đồng mua bán nghĩa vụ này. - Không nên sử dụng điều kiện này khi người mua không thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các thủ tục xuất khẩu. Trong trường hợp như vậy, nên sử dụng điều kiện FCA (giao hàng cho người chuyên chở) với điều kiện người bán đồng ý bốc dỡ hàng hoá và chịu mọi chi phí, rủi ro liên quan trong quá trình bốc hàng. ĐIỀU 1: A1. Cung cấp hàng theo đúng hợp đồng: Người bán phải cung cấp hàng hoá và hoá đơn thương mại hoặc thông điệp điện tử tương đương theo đúng hợp đồng mua bán và cung cấp mọi bằng chứng về việc đó nếu hợp đồng yêu cầu. B1. Trả tiền hàng: Người mua phải trả tiền hàng như quy định trong hợp đồng mua bán ĐIỀU 2: A2. Giấy phép, cho phép và thủ tục: Người bán phải, và theo yêu cầu của người mua và do người mua chịu chi phí và rủi ro, giúp đỡ người mua lấy giấy phép xuất khẩu hoặc sự cho phép chính thức khác nếu có quy định, bắt buộc phải có đối với việc xuất khẩu hàng hoá. B2.Giấy phép cho phép và thủ tục: Người mua phải tự chịu rủi ro và chi phí để lấy các giấy phép xuất khẩu và nhập khẩu hoặc sự cho phép chính thức khác và thực hiện, nếu có quy định, mọi thủ tục hải quan đối với việc xuất khẩu hàng hoá. ĐIỀU 3: A3. Hợp đồng vận tải và Hợp đồng bảo hiểm: Không có nghĩa vụ. B3. Hợp đồng vận tải và hợp đồng bảo hiểm: Không có nghĩa vụ. ĐIỀU 4: A4. Giao hàng: Người bán phải đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua tại địa điểm giao hàng quy định, chưa bốc lên phương tiện tiếp nhận, vào ngày hoặc trong thời hạn quy định hoặc nếu trong trường hợp không có quy định về thời gian nào như vậy thì giao vào thời điểm thông thường cho việc giao số hàng đó. Nếu không có quy định về điểm giao hàng cụ thể, và nếu tại địa điểm quy định có một số điểm có thể giao hàng thì người bán có thể chọn điểm giao hàng phù hợp nhất cho mình B4.Nhận hàng: Người mua phải nhận hàng khi hàng hoá đã được giao như quy định ở điều A4 và A7/B7. ĐIỀU 5: A5. Chuyển rủi ro: Người bán, theo quy định tại Điều B5, phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến thời điểm hàng đã được giao như quy định tại Điều A4. B5. Chuyển rủi ro: Người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá từ thời điểm hàng đã được giao như quy định ở điều A4; và từ ngày quy định hoặc ngày cuối cùng thời hạn quy định cho việc giao hàng, trường hợp này xẩy ra khi người mua không thông báo như quy định ở điều B7, tuy nhiên với điều kiện là hàng hoá đã được cá biệt hoá rõ ràng là thuộc hợp đồng, tức là được tách riêng ra hoặc được xác định bằng cách khác là hàng hoá của hợp đồng . ĐIỀU 6: A6. Phân chia phí tổn: Người bán phải, theo quy định tại Điều B6, trả mọi chi phí liên quan tới hàng hoá cho đến thời điểm hàng hoá được giao như quy định tại điều A4. B6. Phân chia phí tổn: Người mua phải trả mọi chi phí liên quan tới hàng hóa kể từ thời điểm hàng được giao như quy định ở điều A4; và mọi chi phí phát sinh thêm do việc người mua không nhận hàng khi hàng hoá đã được giới quyền định đoạt của người mua hoặc không thông báo thích hợp như quy định ở điều B7,tuy nhiên với điều kiện là hàng hoá đã được cá biệt hoá rõ ràng là thuộc hợp đồng , tức là được tách riêng ra hoặc được xác định bằng cách khác là hàng của hợp đồng nếu có quy định , tất cả những loại thuế quan , thuế và lệ phí khác cũng như các chi phí làm thủ tục hải quan phải nộp khi xuất khẩu. Người mua phải hoàn trả cho người bán mọi chi phí và lệ phí mà người bán phải gánh chịu trong việc giúp đỡ người mua như quy định ở điều A2. ĐIỀU 7: A7. Thông báo cho người mua: Người bán phải thông báo đầy đủ cho người mua về thời gian và địa điểm mà hàng hoá sẽ được đặt dưới quyền định đoạt của người mua B7. Thông báo cho người bán: Người mua phải, trong trường hợp người mua có quyền quyết định thời điểm trong thời hạn quy định và/hoặc địa điểm nhận hàng,thông báo cho người bán đầy đủ các thông tin chi tiết đó. ĐIỀU 8: B8.Bằng chứng của việc giao hàng, chứng từ vận tải hoặc thông điệp điện tử tương đương: Không có nghĩa vụ B8. Bằng chứng của việc giao hàng,chứng từ vận tải hoặc thông điệp điện tử tương đương: Người mua phải cung cấp cho người bán bằng chứng thích hợp về việc đã chấp nhận giao hàng. ĐIỀU 9: A9. Kiểm tra, Bao bì, đóng gói - ký mã hiệu: Người bán phải trả phí tổn cho các hoạt động kiểm tra (như kiểm tra chất lượng, đo lường, cân đong, tính đếm) bắt buộc phải có đối với việc đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua. Người bán phải, bằng chi phí của chính mình, đóng gói hành hoá (trừ khi theo thông lệ của ngành hàng thương mại cụ thể là để hàng hoá không cần bao gói) bắt buộc phải có đối với việc vận chuyển hàng hoá, trong phạm vi các tình huống liên quan đến việc vận chuyển (ví dụ: phương thức vận chuyển, nơi đến) đã được người bán biết trước khi ký hợp đồng mua bán hàng hoá. Bao bì đóng hàng phải được ghi ký mã hiệu phù hợp. B9. Giám định hàng hoá: Người mua phải trả phí tổn cho việc giám định trước khi gửi hàng, kể cả việc kiểm tra được tiến hành theo lệnh của các cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. ĐIỀU 10: A10. Nghĩa vụ khác: Người bán phải, theo yêu cầu của người mua và do người mua chịu rủi ro và chi phí, giúp đỡ người mua lấy các chứng từ hoặc các thông điệp điện tử tương đương hoặc ký phát hoặc truyền đi ở nước gửi hàng và/hoặc nước xuất xứ mà người mua cần có để xuất khẩu và/hoặc nhập khẩu hàng hoá và, nếu cần thiết, quá cảnh hàng hoá qua nước khác. Người bán phải cung cấp cho người mua, theo yêu cầu của người mua, các thông tin cần thiết để mua bảo hiểm cho hàng hoá. B10. Nghĩa vụ khác: Người mua phải trả mọi phí tổn và lệ phí phát sinh để lấy các chứng từ hoặc thông điệp điện tử tương đương như nêu trong điều A10 và hoàn trả cho người bán những phí tổn mà người bán phải gánh chịu trong việc giúp đỡ người mua như quy định ở điều A10.
    5 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Tại sao hiện nay trên thế giới không dùng vàng làm tiền?

    Câu trả lời hay nhất: Hiện nay, các quốc gia khồngdung tiền làm từ vàng. Tuy nhiên nếu bạn tìm hiẻu sâu một chút về tài chính quốc tế hay tín dụng quốc tế thì bạn vẫn thấy một số trường hợp nhất định người ta sử dụng vàng trong thanh toán như là tiền tệ tuy nhiên nó chỉ sử dụng ở cấp độ cao. Trong tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế, đa phần người... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Hiện nay, các quốc gia khồngdung tiền làm từ vàng. Tuy nhiên nếu bạn tìm hiẻu sâu một chút về tài chính quốc tế hay tín dụng quốc tế thì bạn vẫn thấy một số trường hợp nhất định người ta sử dụng vàng trong thanh toán như là tiền tệ tuy nhiên nó chỉ sử dụng ở cấp độ cao. Trong tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế, đa phần người ta dùng tiền giấy để định giá trong lưu thông hàng hóa xuất nhập khẩu. Như vậy khi bạn là người nhập khẩu bạn sẽ phải thanh toán cho nhà xuất khẩu qua ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại sẽ thanh toán với ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài sẽ thanh toán cho nhà nhập khẩu. Tất nhân là họ chỉ bù trừ trên tài khoản của họ, không thể mỗi một lô hàng lại xuất một chút ngoại tệ để thanh toán. Hàng kỳ (tháng, quý, năm) ngân hàng thương mại sẽ làm báo cáo tổng kết cho ngân hàng quốc gia. Măcj dù là thanh toán cho ngân hàng nước ngoài nhưng vẫn phải bù trừ qua ngân hàng quốc gia. Ngân hàng quốc gia hàng năm sẽ cộng gộp các khoản nợ, có của ngân hàng thương mại do mình quản lý để lên được con số chính xác số nợ nước ngoài hay có nước ngoài. Như vậy là các ngân hàng quốc gia hàng năm sẽ phải lập bảng bù trừ đối ứng xem nước nào nợ hay có nước mình bao nhiêu. Nếu nợ thì sẽ phải xuất ngoại tệ(tiền mặt) để trả nợ, điều này là một trong những nguyên nhân hình thành nên quỹ dự trữ ngoại tệ (cái này ngân hàng nhà nước VN đang dấu không công bố làm cho dân tình lo lắng). Trong trường hợp lượng dự trữ ngoại tệ không đủ để trả nợ thì ngân hàng nhà nước phải dùng vàng để thanh toán. LÚC NÀY VÀNG ĐƯỢC DÙNG LÀM TIỀN. Điều này giải thích tại sao ngân hàng bắt buộc phải dự trữ vàng. (NHVN cũng dấu nhẹm cái này). Trong trường hợp vàng cũng không đủ để thanh toán các quốc gia bắt buộc phải tuyên bố "Phá sản quốc gia". Trong lịch sử tiền tệ đã từng xảy ra hiện tượng "phá sản quốc gia" đó là trường hợp của Bắc Triều Tiên. Khi Bắc Triều Tiên tuyên bố "phá sản quốc gia" các quốc gia chủ nợ đã mang các khoản nợ này ra câu lạc bộ Pari để đấu giá các khoản nợ. Một số quốc gia tuyên bố xóa nợ cho Bắc Triều Tiên, một số tuyên bố xóa nợ một phần. Phần còn lại đem bán đấu giá. Các quốc gia nào muốn có ảnh hưởng với Bắc Triều Tiên thì mua lại khoản nợ này. Và Trung Quốc đã mua lại được phần lớn số nợ quốc gia của Bắc Triều Tiên, Nga, Mỹ cũng mua được chut ít, cụ thể là bao nhiêu thì mình chịu vì đây là bí mật của mỗi quốc gia.
    6 câu trả lời · Tín dụng · 1 thập kỷ trước
  • Trong biên lai giao dịch ATM thì chữ: DER có nghĩa là gì?

    Câu trả lời hay nhất: Documentation Evaluation Record Bản ghi Đánh giá Tài liệu hoặc Tài liệu đánh giá Record
    Câu trả lời hay nhất: Documentation Evaluation Record Bản ghi Đánh giá Tài liệu hoặc Tài liệu đánh giá Record
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 9 năm trước
  • Báo cáo về Giá trị sản lượng là gì ? Nói lên điều gì ?

    Câu trả lời hay nhất: Để trả lời câu hỏi của bạn, trước hết cần tìm hiểu rõ 03 định nghĩa: Giá trị, sản lượng, doanh thu. Giá trị: Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá. Để hiểu khái niệm này, phải đi từ sự trao... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Để trả lời câu hỏi của bạn, trước hết cần tìm hiểu rõ 03 định nghĩa: Giá trị, sản lượng, doanh thu. Giá trị: Giá trị của hàng hoá là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động hao phí của người sản xuất để sản xuất ra nó đã được kết tinh vào trong hàng hoá. Để hiểu khái niệm này, phải đi từ sự trao đổi và giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại hàng hoá này được trao đổi với một giá trị sử dụng khác. Ví dụ 1 m vải có thể đổi được 4 kg gạo. Gạo và vải, tại sao lại trao đổi được với nhau, hơn nữa lại trao đổi được theo một tỉ lệ nhất định như vậy, rõ ràng nó phải có một cơ sở chung, đó không phải là giá trị sử dụng của chúng vì vải và gạo có giá trị sử dụng hoàn toàn khác nhau, cái chung đó là cả vải và gạo đều là sản phẩm của lao động, do lao động (thời gian lao động và công sức lao động) được chứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá. Đây là khái niệm được khẳng định trong các giáo trình kinh tế chính trị. Nếu xét nó trên quan điểm của trường phái hiệu dụng biên thì vẫn đạt được lý lẽ hoàn chỉnh. Theo đó, đối tượng chung của nhu cầu có trong các cá nhân khác nhau vẫn đảm bảo cơ sở cho trao đổi. Ví dụ: nhu cầu ăn và mặc có trong hai cá nhân A và B, trong lúc A sở hữu áo và B sở hữu gạo thì nhu cầu chung kia sẽ tạo tiền đề cho trao đổi, tỷ lệ trao đổi tùy thuộc rất nhiều yếu tố: vị thế, độ bức xúc nhu cầu, thói quen tâm lý, quy định xã hội v.v., vì thế tỷ lệ trao đổi sẽ là ngẫu nhiên nhưng mang tính ổn định nhất định, cái này có thể quy đổi thành tiền. Trong ví dụ bạn nêu là 100 tỷ đồng. Sản lượng: Sản lượng là một khái niệm trong kinh tế học quản trị, có ký hiệu là TP. Tổng sản lượng là mức sản lượng được sản xuất ra từ các mức khác nhau của môt yếu tố đầu vào kết hợp với các mức cố định của các yếu tố khác. Khái niệm tổng sản lượng khái niệm là khởi đầu để tính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế, kinh doanh, nhất là phân tích ngắn hạn. Khi xem xét các nhân tố tác động đến tổng sản lượng, nhà quản lý có thể đi đến quyết định dịch chuyển nhân tố nào để tối ưu hóa quá trình sản xuất. Vậy giá trị sản lượng là gì: có thể coi giá trị sản lượng là năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong 1 thời gian nhất định, ví dụ là 1 năm, được quy đổi thành tiền. Doanh thu: Doanh thu là luồng tiền (lượng tiền) có được của hãng, của doanh nghiệp sau khi bán các sản phẩm và dịch vụ của mình. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. Từ các định nghĩa trên có thể hiểu Giá trị sản phẩm của doanh nghiệp mà bạn nêu là 100 tỷ đồng, tức là trong năm tài chính đó, doanh nghiệp đó đã sản xuất ra được khối lượng sản phẩm tương đương 100 tỷ đồng. Cũng trong năm tài chính đó doanh nghiệp đã bán hàng và thu về với lượng tiền mặt là 90 tỷ đồng. Vậy 10 tỷ đồng còn lại đi đâu? Nó có thể nằm trong giá trị hàng tồn kho, hàng gửi bán, hoặc là hàng bị lỗi bị thu hồi… cái này phải xem cụ thể doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng gì. Để hiểu rõ hơn về vân đề này, xin nêu một khái niệm nữa về hàng hó hữu hình và hàng hó vô hình. Về hàng hó hữu hình thì bạn có thể tự tìm hiểu, ở đây chỉ xin nêu vài quan điểm về hàng hóa vô hình. Hàng hóa vô hình hay là các sản phẩm dịch vụ có chung một đạc điểm là: Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng hàng hóa vô hình xảy ra đồng thời; Tính không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng không thể tách rời. Tính chất không đồng nhất: chất lượng đồng nhất; vô hình: không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng; Không lưu trữ được: Không thể lập kho để lưu trữ hàng hóa Còn đối với hàng hóa hữu hình thì ngược lại Điển hình nhất đối với hàng hóa vô hình là ngành kinh doanh du lịch và vận tải. Vận tải được bao nhiêu thì tính tiền bấy nhiêu, ví dụ trở 1000 tấn than bằng xà lan từ Quảng Ninh đến Hà Nội với giá là 20.000.000 đồng. Khi chủ tầu trở 1000 tấn than (lúc này chủ tầu là nhà sản xuất) và hàng bắt đầu được trỏ đi (chủ hàng là người tiêu dùng) , túc là sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng 1 thời điểm và nó không tách rời nhau, và chủ hàng cũng không thể biết trước được chất lượng của việc vận chuyển (ví dụ đang đi đường xà lan bị đắm thì chất lượng trở về = 0, nếu về đến đích thì chất lượng = 20.000.000 đồng), và việc vận chuyển này cũng không đồng nhất, nếu đi từ QN-HN chuyến đấu mất khoảng 15 h đồng hồ, chuyến sau mất 18 h như vậy chất lượng không đồng nhất. Và điều đặc biệt nhất người ta không lưu trữ được “vận tải” mà người ta chỉ lưu trữ được “năng lực vận tải”. Trong 1 tháng chiếc xà lan đó có thể chạy tối đa là 20 chuyến từ HN-QN và ngược lại tức là khoảng 40 chuyến tính cả 2 chiều, n
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 9 năm trước
  • Có dấu hiệu dư thừa vốn khả dụng, vậy vốn khả dụng là gì?

    Câu trả lời hay nhất: Vốn khả dụng là số tiền dự trữ mà ngân hàng gửi vào cơ quản quản lý tiền tệ của quốc gia (ngân hàng trung ương, cục quản lý tiền tệ). Nó bao gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi phục vụ thanh toán liên ngân hàng, v.v... Đây là một thước đo mức độ đảm bảo thanh khoản của các ngân hàng và là một căn cứ quan trọng để cơ quan... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Vốn khả dụng là số tiền dự trữ mà ngân hàng gửi vào cơ quản quản lý tiền tệ của quốc gia (ngân hàng trung ương, cục quản lý tiền tệ). Nó bao gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi phục vụ thanh toán liên ngân hàng, v.v... Đây là một thước đo mức độ đảm bảo thanh khoản của các ngân hàng và là một căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý tiền tệ thực hiện nghiệp vụ thị trường mở. Mức vốn khả dụng của một ngân hàng càng lớn đồng nghĩa với việc lượng tín dụng mà ngân hàng có thể cung cấp lớn. Thông qua việc rút bớt hay bơm thêm vốn khả dụng, cơ quan quản lý tiền tệ có thể tác động tới chênh lệch cung - cầu về dự trữ của ngân hàng, từ đó khiến ngân hàng phải điều chỉnh hành vi của mình trên thị trường vay liên ngân hàng. Lãi suất vay liên ngân hàng vì thế có thể được điều chỉnh theo ý của cơ quan quản lý tiền tệ. Theo điều 2 QUYẾT ĐỊNH CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Số: 37/2000/QĐ-NHNN1 Ngày 24 tháng 01 năm 2000 1. Vốn khả dụng là số tiền gửi của các tổ chức tín dụng (bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác) được gửi tại Ngân hàng Nhà nước. 2. Vốn khả dụng cần duy trì của các tổ chức tín dụng là số tiền gửi của các tổ chức tín dụng gửi tại Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo thực hiện dự trữ bắt buộc và các nhu cầu thanh toán khác theo mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ.
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 10 năm trước
  • Thuế môn bài công ty tôi phải đóng là 1 triệu, công ty có 1 văn phòng khác vậy công ty có phải nộp thuế mb ko?

    Câu trả lời hay nhất: Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế cấp nào thì kê khai - nộp thuế Môn bài tại cơ quan thuế cấp đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh có nhiều cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc nằm ở các điểm khác nhau trong cùng địa phương thì cơ sở kinh doanh kê khai - nộp thuế Môn bài của bản thân cơ sở, đồng thời kê khai - nộp thuế Môn... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế cấp nào thì kê khai - nộp thuế Môn bài tại cơ quan thuế cấp đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh có nhiều cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc nằm ở các điểm khác nhau trong cùng địa phương thì cơ sở kinh doanh kê khai - nộp thuế Môn bài của bản thân cơ sở, đồng thời kê khai - nộp thuế Môn bài cho các cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc, đóng trên cùng địa phương. Các chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu đóng ở địa phương khác thì kê khai - nộp thuế Môn bài tại cơ quan thuế nơi có chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh. Sau khi nộp thuế Môn bài, cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu được Cơ quan thuế cấp một thẻ Môn bài hoặc một chứng từ chứng minh đã nộp thuế Môn bài ( biên lai thuế hay giấy nộp tiền vào ngân sách có xác nhận của kho bạc) ghi rõ tên cơ sở kinh doanh, cửa hàng, cửa hiệu, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh ...làm cơ sở để xuất trình khi các cơ quan chức năng kiểm tra kinh doanh. Cơ sở kinh doanh không có địa điểm cố định như kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động, hộ xây dựng, vận tải, nghề tự do khác ... nộp thuế Môn bài tại cơ quan thuế nơi mình cư trú hoặc nơi mình được cấp ĐKKD.
    1 câu trả lời · Việt Nam · 10 năm trước
  • đặc trưng của hàng hoá hữu hình là gì?

    Câu trả lời hay nhất: Đặc trưng của hàng hóa hữu hình: Tính không đồng thời: sản xuất và tiêu dùng hàng hóa hữu hình xảy ra không đồng thời; Tính có thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng có thể tách rời. Tính chất đồng nhất: chất lượng đồng nhất; Hữu hình: có hình hài rõ rệt. Có thể thấy trước khi tiêu dùng; Có lưu trữ được: Có thể lập kho để... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Đặc trưng của hàng hóa hữu hình: Tính không đồng thời: sản xuất và tiêu dùng hàng hóa hữu hình xảy ra không đồng thời; Tính có thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng có thể tách rời. Tính chất đồng nhất: chất lượng đồng nhất; Hữu hình: có hình hài rõ rệt. Có thể thấy trước khi tiêu dùng; Có lưu trữ được: Có thể lập kho để lưu trữ hàng hóa .
    2 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 10 năm trước
  • Kinh tế đối ngoại?

    Câu trả lời hay nhất: Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và là phần phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia hay “phần giao” của những giao dịch kinh tế giữa các nước. Đây là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và là phần phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia hay “phần giao” của những giao dịch kinh tế giữa các nước. Đây là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát triển phân công lao động quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động quốc tế, các quan hệ tiền tệ và tín dụng quốc tế và các dịch vụ quốc tế khác. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại có thể được xem xét từ bản chất kinh tế của quan hệ và giao dịch, ý chí điều chỉnh của Chính phủ thông qua chính sách, cơ chế và các công cụ và đội ngũ nhân lực thực hiện các quan hệ. Đối với các nước công nghiệp phát triẻn thì mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại giúp cho việc bành trường nhanh chóng sức mạnh kinh tế của mình như tìm kiếm thị trường mới để giải quyết khủng hoảng thừa hàng hóa, để tìm kiếm nơi đầu tư thuận lợi, đêm lại lợi nhuận cao hơn, giảm được chi phí sản xuất do sử dụng lao động và tài nhuyên rẻ hơn ở các nước đang phát triển.Đối với các nước đang phát triển thì việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm tiếp thu vốn, công nghệ tiên tiến để thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng năng động, tăng trưởng với tốc độ cao. Hơn nữa thị trường nội địa của các nước này qua chật hẹp không đủ để đảm bấopht triển nền công nghiệp với quy mô sản xuất hàng loạt. Điều đó cho thấy chỉ có mở rộng kinh tế đối ngoại mới khắc phục được hạn chế trên. Việc mở rộng nó còn nhằm khai thác triệt để các thế mạnh của đất nước, nâng cao đời sống, tạo điều kiện củng cố hòa bình. Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà cho sự phát triển của lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị nền kinh tế. Động lực phát triển kinh tế toàn cầu, lúc đó, sẽ trở thành động lực tăng trưởng trực tiếp của nền kinh tế Phân tích các hình thức: Dài quá, nói ngắn thôi nhé, bạn cần cụ thể về hình thức nào thì mình có tài liêu ebook chuyển cho bạn qua mạng: * Ngoại thương: Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác thông qua các hoạt động mua và bán. Trong hoạt động ngoại thương: xuất khẩu là viẹc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu chính là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài. Toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu trong ngoại thương của một nước hay một nhóm nước được gọi là mậu dịch quốc tế hay thương mại quốc tế. Đầu tư quốc tế: Bạn có thể vào link sau đăng ký thành viên rồi load về hoặc mình sẽ gửi cho bạn ebook qua mail http://www.ktdoingoai.com/diendan/forumd... Hợp tác sản xuất và chuyển giao công nghệ quốc tế: Bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để tiến hành cùng nhau sáng chế, thiết kế thử nghiệm, trao đổi kết quả nghiên cứu...... ứng dụng các thành tực khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh được thể hiện dưới dạng: - các bí quyết kỹ thuật , Mệt quá có mail tôi chuyển tài liệu cho gõ mỏi tay quá. Hoặc bạn vào đường dẫn sau: http://ftu-forum.net/forums/attachment.p...
    1 câu trả lời · Kinh tế học · 1 thập kỷ trước
  • Thương mại quốc tế đâu chỉ có xuất nhập khẩu.Do U think so?

    Câu trả lời hay nhất: Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và là phần phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia hay “phần giao” của những giao dịch kinh tế giữa các nước. Đây là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Kinh tế đối ngoại là lĩnh vực kinh tế thể hiện phần tham gia của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và là phần phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia hay “phần giao” của những giao dịch kinh tế giữa các nước. Đây là tổng thể các quan hệ kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới dựa trên cơ sở sự phát triển phân công lao động quốc tế và chuỗi giá trị toàn cầu. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ, di chuyển lao động quốc tế, các quan hệ tiền tệ và tín dụng quốc tế và các dịch vụ quốc tế khác. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại có thể được xem xét từ bản chất kinh tế của quan hệ và giao dịch, ý chí điều chỉnh của Chính phủ thông qua chính sách, cơ chế và các công cụ và đội ngũ nhân lực thực hiện các quan hệ. Ngoại thương: Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác thông qua các hoạt động mua và bán. Trong hoạt động ngoại thương: xuất khẩu là viẹc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu chính là việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài. Toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu trong ngoại thương của một nước hay một nhóm nước được gọi là mậu dịch quốc tế hay thương mại quốc tế
    2 câu trả lời · Kinh tế học · 1 thập kỷ trước
  • Toi muon biet ve NAFTA?

    Câu trả lời hay nhất: Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)/ Luật Triển khai NAFTA: Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, liên kết Mỹ, Canada, Mehico, đã tạo ra một thị trường hàng hoá và dịch vụ lớn nhất thế giới. Sau khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của các quốc gia này, NAFTA đã có hiệu lực vào ngày 1/1/1994. NAFTA đã hợp nhất hoặc đưa... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)/ Luật Triển khai NAFTA: Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, liên kết Mỹ, Canada, Mehico, đã tạo ra một thị trường hàng hoá và dịch vụ lớn nhất thế giới. Sau khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của các quốc gia này, NAFTA đã có hiệu lực vào ngày 1/1/1994. NAFTA đã hợp nhất hoặc đưa hầu hết các điều khoản của Hiệp định Mậu dịch Tự do Mỹ - Canada (FTA), có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1989. Mỹ và Canada đã chấm dứt hoạt động của hiệp định song phương khi NAFTA bắt đầu có hiệu lực. NAFTA đã bỏ một số điều khoản của Hiệp định Mậu dịch Tự do Mỹ-Canada, ví dụ như quy định về xuất xứ hàng hoá. Trong khi triển khai, NAFTA yêu cầu loại bỏ ngay lập tức các loại thuế quan của hơn nửa số lượng mặt hàng nhập khẩu của Mỹ từ Mehico và trên 1/3 số lượng mặt hàng xuất khẩu của Mỹ sang Mehico. NAFTA đã cam kết tất cả các bên chấm dứt những hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài là thành viên của NAFTA, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức độ cao, và tự do hoá thương mại dịch vụ. Hiệp định này cũng thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp. NAFTA cũng có một phụ lục về các tiêu chuẩn và hợp tác trong vấn đề môi trường và lao động, đưa hiệp định thương mại đầu tiên của Mỹ chính thức được gắn với những cam kết này. Cơ quan giám sát cao nhất của NAFTA là Ủy ban Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ, bao gồm Ðại diện Thương mại Mỹ, Bộ trưởng Ngoại thương Canada, và Bộ trưởng Thương mại và Phát triển Công nghiệp Mehico. Ủy ban này đã thành lập các tổ công tác và các cơ quan tư vấn để quản lý những hoạt động hàng ngày của hiệp định. NAFTA có những quy định riêng quản lý việc tự do hoá thương mại và đầu tư, được sử dụng bổ sung hoặc thay thế các quy định của WTO. Các quy định của NAFTA áp dụng vào các lĩnh vực bao gồm việc mở cửa đối với mua sắm của chính phủ, các tiêu chuẩn sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn viễn thông, đầu tư, quy định về xuất xứ hàng hoá, các biện pháp ngăn chặn làn sóng nhập khẩu, và dịch vụ.
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Tại sao phương thức thâm nhập thị trường quốc tế là nhân tố cơ bản chi phối đến việc xây dựng chương trình mar

    Câu trả lời hay nhất: hệ thống những quan điểm mục tiêu định hướng, những phương thức thâm nhập thị trường trong các chiến lược marketing để đưa sản phẩm thâm nhập có hiệu quả vững chắc ở thị trường thế giới, cần chú trọng những vấn đề: - Xây dựng những quan điểm mục tiêu định hướng thâm nhập thị trường thế giới một cách hợp lý bởi vì những... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: hệ thống những quan điểm mục tiêu định hướng, những phương thức thâm nhập thị trường trong các chiến lược marketing để đưa sản phẩm thâm nhập có hiệu quả vững chắc ở thị trường thế giới, cần chú trọng những vấn đề: - Xây dựng những quan điểm mục tiêu định hướng thâm nhập thị trường thế giới một cách hợp lý bởi vì những quan điểm mục tiêu định hướng này chỉ ra phương hướng phát triển chung cùng với mục tiêu cần phải đạt được trong một giai đoạn nhất định của quá trình thâm nhập thị trường thế giới. Vì vậy, từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường thế giới phải quán triệt những quan điểm mục tiêu định hướng thâm nhập thị trường thế giới của cả nước, của địa phương nhằm đảm bảo phát triển xuất khẩu theo mục tiêu đã định. - Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương thức thâm nhập thị trường thế giới của các doanh nghiệp và lựa chọn phương thức thâm nhập hợp lý. - Xây dựng và thực hiện những chiến lược marketing mix trong từng giai đoạn cụ thể. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược: - Ðặc điểm của thị trường: đặc điểm tổng quát của thị trường mục tiêu là điều chính yếu cần xem xét khi xây dựng cách thức thâm nhập vì môi trường cạnh tranh kinh tế-xã hội, chính trị, luật pháp ở các nước thường không giống nhau. - Ðặc điểm của sản phẩm: tính thương phẩm của hàng hóa. Những hàng hóa dễ hư hỏng đòi hỏi mua bán trực tiếp nhanh, tổ chức phân phối nhanh; những sản phẩm có giá trị cao, cần kỹ thuật cao cấp đòi hỏi phải tiếp xúc trực tiếp, giải thích phẩm chất của sản phẩm, yêu cầu dịch vụ sau bán hàng. Những sản phẩm cồng kềnh đòi hỏi giảm thiểu đoạn đường chuyên chở. - Ðặc điểm của khách hàng: số lượng khách hàng, sự phân tán theo vùng, lợi tức tập quán mua hàng, môi trường văn hóa mà họ chịu ảnh hưởng. - Ðặc điểm của hệ thống trung gian: thường thì các nhà trung gian chỉ chọn lựa những sản phẩm có nhãn hiệu bán chạy, hoa hồng cao và đây là một điều trở ngại lớn cho các nhà sản xuất nào muốn thâm nhập thị trường mới với sản phẩm mới. - Tiềm lực các doanh nghiệp: là nhân tố chủ quan nói lên khả năng và điều kiện của doanh nghiệp trong tiến trình thâm nhập thị trường. Ðối với các công ty đa quốc gia trên thế giới có tiềm lực mạnh, có thể thực hiện chiến lược thâm nhập từng thị trường khác nhau trên cơ sở chủ động lựa chọn các phương thức thâm nhập theo khả năng của doanh nghiệp, nhưng đối với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, trung bình, trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng tài chính hạn chế không nên lựa chọn chiến lược thâm nhập thị trường bằng việc tổ chức sản xuất ở nước ngoài. Trong trường hợp này những doanh nghiệp đó phải lựa chọn phương thức duy nhất là xuất khẩu sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp ra thị trường nước ngoài.
    2 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Tại sao doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường quốc tế thích hợp?

    Câu trả lời hay nhất: Hoạt động thâm nhập thị trường được coi là một nội dung trong hoạt động marketing quốc tế. Thông thường, một doanh nghiệp mong muốn tham gia một thị trường quốc tế nào đó bởi một số lý do sau đây: s Doanh nghiệp có khả năng cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng tốt hơn hoặc với giá rẻ hơn để phản công lại thị... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Hoạt động thâm nhập thị trường được coi là một nội dung trong hoạt động marketing quốc tế. Thông thường, một doanh nghiệp mong muốn tham gia một thị trường quốc tế nào đó bởi một số lý do sau đây: s Doanh nghiệp có khả năng cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng tốt hơn hoặc với giá rẻ hơn để phản công lại thị trường nội địa của đối thủ cạnh tranh nhằm làm phân hóa nguồn lực của các đối thủ này. s Doanh nghiệp nhận thấy rằng có những thị trường nước ngoài mang lại lợi nhuận cao hơn thị trường trong nước. s Doanh nghiệp có thể cần phát triển một hệ thống khách hàng lớn hơn để phục vụ chiến lược quy mô kinh tế của mình. s Doanh nghiệp có thể không muốn quá phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ nào đó mà muốn phân tán rủi ro. s Khách hàng của doanh nghiệp có hoạt động ở nước ngoài nên cần dịch vụ của doanh nghiệp ở nước đó. Trước khi tham gia thị trường nước ngoài, doanh nghiệp cần cân nhắc những một số rủi ro sau: s Doanh nghiệp có thể không hiểu thị hiếu khách hàng nên không đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh. s Doanh nghiệp có thể không hiểu được nền văn hóa kinh doanh bản địa hoặc bí quyết nào đó để có thể giao dịch một cách hiệu quả với người bản địa. s Doanh nghiệp có thể không lượng trước đầy đủ các quy định luật pháp và các chi phí có thể phát sinh ngoài sự mong đợi. s Doanh nghiệp có thể không có người quản lý có kinh nghiệm quốc tế hoặc miễn cưỡng khi được cử đi làm việc tại nước ngoài. s Quốc gia đó có sự thay đổi luật pháp kinh doanh, giảm giá đồng tiền hoặc đang có những thay đổi chính trị hoặc có sự công hữu tài sản. Lựa chọn thị trường Thông thường, để lựa chọn thị trường nào là thị trường mục tiêu thâm nhập, doanh nghiệp sử dụng đánh giá xếp hạng thị trường này so với thị trường khác. Có một số doanh nghiệp đánh giá trên một số gốc độ như sau: s Mức độ hấp dẫn của thị trường thông qua một số chỉ số kinh tế như GDP trên đầu người, lực lượng lao động, mức tăng dân số… s Lợi thế cạnh tranh thông qua những kết quả kinh doanh đã thực hiện trước đó để xem xem đây có phải là thị trường có thể sản xuất hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ hay không cũng như đây có phải là nơi mà lãnh đạo doanh nghiệp thấy thuận tiện khi làm ăn hay không. s Mức độ rủi ro được đánh giá thông qua những chỉ số như ổn định chính trị, ổn định tiền tệ và các quy định về xuất nhập khẩu… Doanh nghiệp cần phải xây dựng được cho mình mục tiêu và chính sách marketing quốc tế khi quyết định tham gia thị trường nước ngoài. Lựa chọn hình thức thâm nhập thị trường Khi doanh nghiệp đã quyết định thâm nhập vào một thị trường nào đó, doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình hình thức tham gia phù hợp. Có thể tóm lược bốn hình thức chính phục vụ cho việc thâm nhập thị trường bao gồm: s Xuất khẩu Xuất khẩu vào thị trường mục tiêu là phương thức truyền thống được thiết kế chặt chẽ để xâm nhập thị trường. Hình thức xuất khẩu không đòi hỏi việc sản xuất phải được thực hiện tại nước nhập khẩu do vậy không đòi hỏi tiền vốn đầu tư cho trang thiết bị, nhà xưởng sản xuất. Khái quát mà nói, hoạt động xuất khẩu thường có sự tham gia của các đối tác như nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, hãng vận chuyển và cơ quan quản lý nhà nước. Doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức xuất khẩu trực tiếp hoặc hình thức xuất khẩu gián tiếp thông qua các đơn vị trung gian làm dịch vụ xuất nhập khẩu. s Nhượng quyền thương hiệu Nhượng quyền thương hiệu là cách thức mà một doanh nghiệp cho phép một doanh nghiệp khác nào đó được sử dụng tài sản vô hình của mình như quy trình sản xuất, thương hiệu, sáng chế, bí mật kinh doanh… để thu về khoản phí sử dụng những tài sản vô hình đó. Th ông quan h ình th ức này, bên nhượng quyền thương hiệu có thể thâm nhập thị trường với ít rủi ro trong khi bên nhận nhượng quyền nhận được những kỹ năng chuyên môn trong sản xuất, một hàng hóa, dịch vụ hay một tên tuổi danh tiếng nào đó mà không cần phải bắt đầu từ đầu. Nhượng quyền thương hiệu cũng có những hạn chế có thể xảy ra ví dụ như doanh nghiệp ít có khả năng kiểm soát hơn đối với bên nhận nhượng quyền khi bên nhận nhượng quyền có thể tự xây dựng cơ sở vận hành riêng cho mình. Hơn nữa, nếu như bên nhận nhượng quyền thương hiệu hoạt động thành công thì cũng có nghĩa là bên nhượng quyền để mất đi lợi nhuận mình đáng có. Khi kết thúc hợp đồng nhượng quyền giữa hai bên, bên nhượng quyền có thể sẽ nhận ra rằng mình đã tạo ra một đối thủ cạnh tranh. s Liên doanh Có năm mục tiêu chủ yếu khi doanh nghiệp thành lập liên doanh đó là để: (i) thâm nhập thị trường; (ii) chia sẻ rủi ro; (iii) chia sẻ công nghệ; (iv) cùng phát triển sản phẩm; (v) tuân thủ quy định của luật pháp. Những yếu tố quan trọng khi cân nhắc đến hình thức liên quan là hình thức cơ cấu sở hữu, cách thức kiểm soát, thời hạn của hợp đồng, giá cả và chuyển giao công nghệ, năng lực và nguồn lực của đối tác trong nước và định hướng của nhà nước. Có những vấn đề có khả năng nảy sinh trong quá trình liên doanh, đó là: ° Mâu thuẫn về những quyết định đầu tư bổ sung khác nhau ° Không tin tưởng trong việc chia sẻ những tri thức của riêng mình ° Không rõ ràng trong việc đánh giá hoạt động để phân chia lợi ích ° Không nhận được sự ủng hộ của công ty mẹ ° Mâu thuẫn về văn hóa ° Các điều khoản để chấm dứt quan hệ khó xây dựng s Đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức sở hữu trực tiếp đối với nhà xưởng máy móc thiết bị đầu tư tại một nước nào đó. Đầu tư trực tiếp liên quan đến việc chuyển giao tiền vốn, con người và công nghệ. Đầu tư trực tiếp có thể được thực hiện qua hình thức mua lại một doanh nghiệp đang có sẵn hoặc thành lập một doanh nghiệp mới. Hình thức sở hữu trực tiếp đảm bảo mức độ kiểm soát hoạt động doanh nghiệp cao hơn cũng như khả năng nhận biết về khách hàng cũng như môi trường hoạt động tốt hơn. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có nguồn lực nhiều hơn cũng như sự cam kết cao hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp.
    4 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Tôi nghe nói khi mua hàng hóa có trị giá trên 10 triệu đồng phải làm hợp đồng mua bán có đúng không? cảm ơn!

    Câu trả lời hay nhất: Cái này không thấy quy định ở văn bản nào. Chẳng qua là cẩn thận thì làm, hơn nữa trong hợp đồng cũng có năm bảy loại. Chẳng nhẽ mua hàng qua mạng cũng phải ngồi gõ hợp đồng thì đến bao giờ mới bán được hàng. Nói chung là khi mua hàng có hóa đơn hợp pháp để giải trình là được, không cứ là bao nhiêu tiền. Ngược lại trong các văn... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Cái này không thấy quy định ở văn bản nào. Chẳng qua là cẩn thận thì làm, hơn nữa trong hợp đồng cũng có năm bảy loại. Chẳng nhẽ mua hàng qua mạng cũng phải ngồi gõ hợp đồng thì đến bao giờ mới bán được hàng. Nói chung là khi mua hàng có hóa đơn hợp pháp để giải trình là được, không cứ là bao nhiêu tiền. Ngược lại trong các văn bản luật cũng quy định hàng hóa khi lưu thông cần có hóa đơn chứng từ hợp pháp. Ý kiến của bạn vlc giống của tui nhưng xin thêm chút. Hàng hóa mua bán qua mạng có nhiều yếu tố rủi ro nhưng xin lưu ý là những mạng lớn như ebay hay amazon là những hãng đảm bảo, uy tín. Còn mua bán qua mạng trong nước chưa đến mức quá mức lừa đảo vì họ giao hàng tận nhà rồi bạn mới phải trả tiền. Trong trường hợp hàng không đúng chất lượng bạn có thể từ chối nhận hàng, không thanh toán.
    3 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Chức năng tổ chức các nhả quản trị cần quan tâm đến các vấn đề gì? Giải thích?Ví dụ minh hoạ

    Câu trả lời hay nhất: Với chức năng số 1 là hoạch định. tiếp theo nhà quản trị cần thực hiện chức năng số 2 là tổ chức. a. Tại sao phải có tổ chức?: i. Xã hội không có luật pháp và nhà nước thì bạn có sống nổi trong mô trường đó không? ii. Tại sao đoàn kiến bò rất ngay hàng, thẳng lối? iii. Tại sao tổ ong lại phải có ong chúa, ong thợ? Tổ chức... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: Với chức năng số 1 là hoạch định. tiếp theo nhà quản trị cần thực hiện chức năng số 2 là tổ chức. a. Tại sao phải có tổ chức?: i. Xã hội không có luật pháp và nhà nước thì bạn có sống nổi trong mô trường đó không? ii. Tại sao đoàn kiến bò rất ngay hàng, thẳng lối? iii. Tại sao tổ ong lại phải có ong chúa, ong thợ? Tổ chức là hành động phân nhóm các nghiệp vụ sao cho các hoạt động của DN được luân chuyển hợp lý, có năng suất lao động cao và các bộ phận nghiệp vụ có quan hệ hữu cơ, móc xích lẫn nhau thành một thực thể thống nhất. b. Khái quát hóa: là hoạt động phân bổ nguồn lực cho hoạch định, bao gồm các công việc xây dựng hệ thống sơ đồ các bộ phận, phòng ban chức năng, các mối quan hệ giữa chúng và trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi, nghĩa vụ của chúng. c. Nguyên tắc: i. Thống nhất chỉ huy cho nhiệm vụ, từng phòng ban. ii. Tổ chức tốt thì phải gắn các bộ phận, phòng ban với các mục tiêu cụ thể. Nếu bộ phận nào dư thừa hay không phục vụ mục tiêu nào cả thì mạnh dạn giải thể hay sáp nhập lại. iii. Đảm bảo tính hiệu quả của vật lực, năng suất lao động của nhân lực và thực hành tiết kiệm chi phí trong toàn bộ hệ thống. iv. Ủy quyền: quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ cho các vị trí từ quản lý cho tới nhân viên. Một hệ thống thiết kế tốt là một hệ thống sử dụng công cụ ủy quyền đúng người đúng việc, đúng khả năng trình độ v. Linh hoạt giữa cứng rắn và mềm mỏng, cương quyết và cầu thị, độc đoán và dân chủ. d. Các cơ sở lý luận cho tổ chức: i. Tầm hạn quản trị: Cấu trúc 1 ban thường có từ 2->3 người, 1 phòng từ 4->12, 1 trung tâm từ 12->36 người, 1 công ty con từ 36 tới 100 người (Ngoại trừ các đơn vị sản xuất có cấu trúc tổ chức phụ thuộc vào máy móc, dây chuyền) ii. Quyền hạn: - Phạm vị ủy quyền hạn theo năng lực và nhiệm vụ - Ủy quyền phải lưu ý tới việc “Tâm phục, khẩu phục” của nhân viên. iii. Cơ cấu tổ chức: sắp xếp sao cho các nhân viên, phòng ban làm việc với nhau thuận tiện nhất và hướng tới mục tiêu chung. iv. Mô hình kiểu Việt Nam - DN nhỏ: sếp->nhân viên (khoảng 15 người)->tầm hạn quản trị rộng và phong cách lãnh đạo là trực tiếp tới từng nhân viên. Chỉ phụ hợp cho DN mới thành lập hoặc DN nhỏ. - DN vừa: Càng phân nhiều cấp thì tầm hạn quản trị càng hẹp. Có thể phân theo chức năng, nhóm ngành hàng. Lúc này, phong cách lãnh đạo chỉ có tính hướng dẫn, động viên và ủy quyền. - DN lớn: Theo ngành hàng, khối chức năng. Phong cách lãnh đạo chủ yếu là ủy quyền. - Theo dự án. Phong cách lãnh đạo chủ yếu là ủy quyền. e. Phương pháp ủy quyền: i. Người ủy quyền là người trực tiếp thực hiện công việc ii. Không làm mất đi hay thu nhỏ nhiệm vụ sẵn có của họ iii. Quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ phải rõ ràng và có ràng buộc iv. Nhận ủy quyền phải tự giác, không áp đặt v. Trao đầy đủ thông tin và quyền hạn. vi. Kiểm tra, giám sát nội dung đã ủy quyền
    1 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Hỏi về xuất nhập khẩu đây???Các bạn giúp mình với ^-^?

    Câu trả lời hay nhất: 1.Điều kiện để được hưởng thuế NK theo chương trình của CEPT/AFTA : Hàng hóa được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D- là hàng hóa phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Hiệp định CEPT, bao gồm: Hàng hóa có chứa ít nhât 40% hàm lượng có xuất xứ từ bất kỳ một nước thành viên ASEAN nào trong thành phần của hàng hóa,... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: 1.Điều kiện để được hưởng thuế NK theo chương trình của CEPT/AFTA : Hàng hóa được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D- là hàng hóa phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Hiệp định CEPT, bao gồm: Hàng hóa có chứa ít nhât 40% hàm lượng có xuất xứ từ bất kỳ một nước thành viên ASEAN nào trong thành phần của hàng hóa, Công thức tính 40% Hàm lượng ASEAN: (Giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước không phải là thành viên ASEAN + Giá trị nguyên phụ liệu có xuất xứ không được xác định ) / Giá FOB x 100 <= 60% Được vận tải trực tiếp từ một nước thành viên này đến một nước thành viên khác (Nước xuất khẩu là thành viên ASEAN và nước nhập khẩu là thành viên ASEAN). Gồm có các trường hợp: Hàng được vận chuyển qua bất kỳ lãnh thổ của một nước ASEAN nào Ví dụ : Hàng đi từ Thái Lan qua Lào vào Việt Nam. Hàng được vận chuyển không qua lãnh thổ của bất kỳ một nước không phải là thành viên ASEAN nào khác (hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu) Ví dụ : Hàng từ Cảng Singapore đến cảng Sài Gòn. Hàng hóa được vận chuyển quá cảnh qua một hoặc nhiều nước trung gian kế cận ASEAN, không phải là thành viên ASEAN, có hoặc không có chuyển tải hoặc lưu kho tạm thời tại các nước đó, với điều kiện : c1 Quá cảnh là cần thiết vì do địa lý hay do yêu cầu có liên quan trực tiếp đến vận tải hàng ; Ví dụ : Hàng từ Philippines qua HongKong đến cảng Hải Phòng . c2 Hàng hóa không được mua bán hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh đó .và c3 Không được có những thao tác gì tác động đến hàng hóa tại nước quá cảnh ngoài việc dở hàng và tái xếp hàng hoặc những công việc cần thiết để giữ hàng trong điều kiện đảm bảo.. 2: Các mặt hàng phải chịu sự kiểm tra chất lượng bắt buộc về mặt nhà nước: Bạn tìm đọc nghị định 12 theo đường link sau: http://www.dncustoms.gov.vn/Data/Nghi_di... Chứng từ được nợ phải làm công văn xin nợ và được lãnh đạo HQ cấp chi cục trở lên đồng ý chấp nhận. Thời hạn tối đa không qua 30 ngày phải hoàn trả chứng từ gốc. Trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn thêm 30 ngày
    2 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước
  • Xin cho biết biện pháp hoàn thiện bộ chứng từ thanh toán xuất nhập khẩu - Cảm ơn.?

    Câu trả lời hay nhất: THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 113/2005/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2005 HƯỚNG DẪN THI HÀNH THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Phụ lục 2 CHỨNG TỪ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) Thanh toán qua ngân hàng là... hiển thị thêm
    Câu trả lời hay nhất: THÔNG TƯ CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 113/2005/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2005 HƯỚNG DẪN THI HÀNH THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Phụ lục 2 CHỨNG TỪ THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán là chứng từ của ngân hàng phục vụ cơ sở kinh doanh xuất khẩu báo cho cơ sở sản xuất kinh doanh xuất khẩu đã nhận được tiền hàng xuất khẩu. Trường hợp thanh toán trả chậm, phải có thoả thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán, cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải được phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng. Các trường hợp thanh toán sau cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng. 1. Trường hợp hàng hoá xuất khẩu được thanh toán cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài, cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện, thủ tục hồ sơ như sau: 1.1. Hợp đồng vay nợ (đối với những khoản vay tài chính có thời hạn dưới 01 năm); hoặc giấy xác nhận đăng ký khoản vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với những khoản vay trên 01 năm). 1.2. Chứng từ chuyển tiền của phía nước ngoài vào Việt Nam qua ngân hàng. Phương thức thanh toán hàng hoá xuất khẩu cấn trừ vào khoản nợ vay nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu. 1.3. Bản xác nhận của phía nước ngoài về việc cấn trừ khoản nợ vay. 1.4. Trường hợp sau khi cấn trừ giá trị hàng hoá xuất khẩu vào khoản nợ vay của nước ngoài có chênh lệch, thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục này. 2. Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá, thanh toán tiền hàng hoá xuất khẩu qua ngân hàng nhưng phía nước ngoài uỷ quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán, ngoài việc cung cấp chứng từ thanh toán thì việc thanh toán theo uỷ quyền phải được thể hiện bằng văn bản (trong hợp đồng xuất khẩu; phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh thanh toán). 3. Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai tại Việt Nam thì việc thanh toán phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán là chứng từ của ngân hàng phục vụ cơ sở kinh doanh xuất khẩu báo cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu đã nhận được tiền hàng xuất khẩu từ tài khoản vãng lai của người mua hoặc người được phía nước ngoài uỷ quyền thanh toán. 4. Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, nếu thu và chuyển về nước bằng tiền mặt ngoại tệ của nước tổ chức hội chợ, triển lãm, cơ sở kinh doanh phải có chứng từ kê khai với cơ quan hải quan về số ngoại tệ tiền mặt thu được do bán hàng hoá chuyển về nước và chứng từ nộp tiền vào ngân hàng tại Việt Nam. 5. Trường hợp xuất khẩu hàng hoá để trả nợ nước ngoài cho Chính phủ thì phải có xác nhận của ngân hàng ngoại thương về số hàng hoá xuất khẩu đó được phía nước ngoài chấp nhận trừ nợ hoặc xác nhận bộ chứng từ đó được gửi cho phía nước ngoài để trừ nợ. 6. Trường hợp việc thanh toán giữa cơ sở kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam và phía nước ngoài thực hiện bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hoá xuất khẩu hoặc tiền công gia công hàng hoá xuất khẩu với giá trị hàng hoá, dịch vụ mua của phía nước ngoài thì cơ sở sản xuất kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện, thủ tục hồ sơ sau: 6.1. Hàng hoá mua bán giữa cơ sở kinh doanh xuất khẩu với bên nước ngoài phải ghi rõ phương thức thanh toán trong hợp đồng xuất khẩu. 6.2. Văn bản xác nhận của phía nước ngoài về số tiền thanh toán bù trừ giữa hàng hoá xuất khẩu với hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ mua của phía nước ngoài. 6.3. Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa trị giá hàng hoá xuất khẩu và trị giá hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số tiền chênh lệch còn lại phải được thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Phụ lục này. 7. Trường hợp số tiền thanh toán trên chứng từ thanh toán không phù hợp với số tiền phải thanh toán như đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng nhưng đứng tên tổ chức, cá nhân phải thanh toán thì xử lý như sau: - Nếu số tiền thanh toán trên chứng từ thanh toán có trị giá nhỏ hơn số tiền phải thanh toán như đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải giải trình rõ lý do như: phí chuyển tiền của ngân hàng, điều chỉnh giảm giá do hàng kém chất lượng hoặc thiếu hụt (đối với trường hợp này phải có văn bản thoả thuận giảm giá giữa bên mua và bán)... - Nếu số tiền thanh toán trên chứng từ thanh toán có giá trị lớn hơn số tiền phải thanh toán như đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải giải trình rõ lý do như: thanh toán một lần cho nhiều hợp đồng, ứng trước tiền hàng...và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự khai báo này. 8. Trường hợp phương thức thanh toán thay đổi so với phương thức đã được thoả thuận trên hợp đồng xuất khẩu, cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải cung cấp văn bản thông báo thay đổi hình thức thanh toán của người mua nước ngoài. 9. Trường hợp chứng từ thanh toán không đúng tên ngân hàng phải thanh toán đã thoả thuận trên hợp đồng nhưng nội dung chứng từ thể hiện rõ tên người thanh toán, tên người thụ hưởng, số hợp đồng xuất khẩu, giá trị thanh toán phù hợp với hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết thì được chấp nhận là chứng từ thanh toán hợp lệ. 10. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá tạm nhập, tái xuất hoặc hàng hoá tạm xuất, tái nhập, nếu trong hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu có qui định người mua hàng trực tiếp thanh toán tiền hàng cho người bán và doanh nghiệp Việt nam chỉ được thanh toán tiền hoa hồng của lô hàng tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập, thì chứng từ thanh toán trong bộ hồ sơ xét hoàn thuế được thay bằng chứng từ thanh toán tiền hoa hồng cho doanh nghiệp Việt Nam. 11. Các trường hợp người mua không thanh toán được tiền hàng do phá sản, bỏ trốn... nên cơ sở kinh doanh không cung cấp được chứng từ thanh toán cho cơ quan hải quan thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu có văn bản giải trình rõ lý do kèm theo văn bản chứng minh sự việc đã giải trình và phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về giải trình trên. 12. Trường hợp hàng hoá bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho các cơ sở kinh doanh khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng xuất khẩu thì việc thanh toán của thương nhân nước ngoài phải thực hiện qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi như hướng dẫn tại Thông tư số 90/2002/TT-BTC ngày 10/10/2002 của Bộ Tài chính.
    2 câu trả lời · Kinh doanh & Tài chính - Khác · 1 thập kỷ trước