Tu đã hỏi trong Giáo dục & Tham khảoGiáo dục & Tham khảo - Khác · 1 thập kỷ trước

Quân khu 7 thành lập vào ngày tháng năm nào ? Quá trình phát triển và hình thành của quân khu trong 65 năm qua?

can gap

3 Câu trả lời

Xếp hạng
  • 1 thập kỷ trước
    Câu trả lời yêu thích

    1. Ngày thành lập: Quân khu 7 được thành lập ngày 10/12/1945.

    2. Nơi thành lập: xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An).

    3. Quá trình hình thành, phát triển 65 năm qua của QK7:

    Ngày 23/09/1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2. Quân và dân Nam bộ, trước hết là quân và dân Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định đã thay mặt cả nước đứng lên chiến đấu, cuộc chiến lan rộng ra khắp miền Đông và sau đó là miền Tây Nam bộ.

    Để có sự thống nhất trong chỉ huy, chỉ đạo ngày 10/12/1945 tại Hội nghị quân sự Nam bộ do Xứ ủy tổ chức (họp ở xã Bình Hoà Nam - huyện Đức Hòa tỉnh Chợ Lớn nay thuộc tỉnh Long An) đã ra quyết định thành lập Khu 7 - một tổ chức quân sự hành chính do các đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ (1).

    Địa bàn Khu 7 khi thành lập bao gồm phần đất Nam bộ ở phía Đông sông Vàm cỏ Đông, gồm các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn và TP Sài Gòn. Đến tháng 12/1948 có quyết định thành lập khu Sài Gòn trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam bộ thì khu 7 chỉ còn lại các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa-Thủ Dầu Một, Tây Ninh, đến tháng 5/1950 khu 7 và khu Sài Gòn-Chợ Lớn sát nhập lại như cũ.

    Tháng 6/1951, tổ chức chiến trường Nam bộ có sự thay đổi lớn. Chiến trường Nam bộ được chia thành 2 phân liên khu và 1 đặc khu. Đó là Phân liên khu miền Đông, Phân liên khu miền Tây (lấy sông Tiền làm ranh giới) và đặc khu Sài Gòn. (Lâm Đồng, Bình Thuận trong kháng chiến chống Pháp thuộc khu 5).

    Phân liên khu miền Đông gồm các tỉnh: Thủ Biên (do Thủ Dầu Một và Biên Hòa sát nhập), Gia Định Ninh (do Gia Định và Tây Ninh sát nhập) Bà Chợ (do Bà Rịa và Chợ Lớn sát nhập), Mỹ Tho (gồm Mỹ Tho, Gò Công và Tân An sát nhập). Long Châu Sa (do phần Long Xuyên, phần Châu Đốc phía Đông sông Tiền và Sa Đéc sát nhập). Toàn Nam bộ 20 tỉnh, lúc đó sát nhập còn 10 tỉnh.

    Sau Hiệp định Giơnevơ 7/1954, chấp hành chỉ thị của trên, phần lớn các đơn vị bộ đội tập trung ở miền Đông, tập kết chuyển quân ra Bắc. Số cán bộ còn lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hai phân liên khu miền Đông và miền Tây được lệnh giải thể chỉ còn giữ lại đặc khu Sài Gòn hoạt động bí mật.

    Trong kháng chiến chống Mỹ, miền Đông Nam bộ và cực Nam Trung bộ thuộc chiến trường B2. Chiến trường B2 gồm Nam bộ, một phần cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên (Gia Nghĩa, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Đắc Lắc ngày nay). B2 bấy giờ chia thành 4 khu: khu 6 (gồm phần cực Nam Trung bộ), khu 7, khu 8, khu 9.

    Riêng ở địa bàn miền Đông Nam bộ từ tháng 5 năm 1961 có 2 Quân khu: Quân khu 7 (mật danh T1, hay T7; gồm các tỉnh: Phước Ty, Long Khánh, Phước Long, Bình Long, Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa) và Quân khu Sài Gòn-Gia Định (mật danh T4 hay l4).

    Đến tháng 10 năm 1967, để tổ chức lại chiến trường chuẩn bị cho đợt tổng công kích Mậu Thân 1968 trên quyết định giải thể khu 7 và Quân khu Sài Gòn-Gia Định, tổ chức khu trọng điểm với trung tâm là Sài Gòn, chia địa bàn miền Đông (lúc này có thêm tỉnh Long An) ra làm 6 phân khu, trong đó có 5 phân khu trong và ven đô, hình thành các mũi tiến công vào Sài Gòn. Phân khu I (Bắc-Tây Bắc), phân khu 2 (Tây-Tây Nam), Phân khu 3 (Tây Nam) phân khu 4 (Đông Nam), phân khu 5 (Đông-Đông Bắc), phân khu 6 (Phân khu Trung tâm) và tổ chức 2 Bộ Tư lệnh (Bộ Tư lệnh tiền phương Bắc và Bộ tư lệnh tiền phương Nam).

    Đến thời kỳ chống "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, năm phân khu (1, 2, 3, 4, 5) sát nhập còn 4 phân khu (phân khu 2 và 3 sát nhập thành phân khu 23) và phân khu nội đô (Trung tâm). Đến 19/08/1972, do vị trí của chiến trường miền Đông Nam bộ là chiến trường quan trọng nên trên quyết định thành lập lại Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn-Gia Định. Quân khu 7 lúc này gồm các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Khánh, Phước Bình, (Phước Long-Bình Long) Tây Ninh, Bình Dương, Long An.

    Sau ngày toàn thắng, theo quyết định của Quân ủy Trung ương (02/07/1976). Bộ chỉ huy Miền (B2) được giải thể, các Quân khu 5,7,9 được thành lập, chiến trường miền Đông chính là Quân khu 7 (từ 1976 đến 1998 với 7 tỉnh thành: Đồng Nai, BR-VT, Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước và TP.HCM). Từ tháng 12/1998 , Quân khu 7 có thêm 2 tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng. Hiện nay Quân khu 7 có 9 tỉnh (thành phố) đó là:

    1. Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Long An.

    3. Đồng Nai.

    4. Tây Ninh.

    5. Bà Rịa – Vũng Tàu.

    6. Bình Dương.

    7. Bình Phước.

    8. Bình Thuận.

    9. Lâm Đồng.

  • 6 năm trước

    Những trận đánh, chiến dịch tiêu biểu của quân và dân Quân khu 7 trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược?

  • 5 năm trước

    cau 3,4,5 giup minh

Bạn vẫn có câu hỏi? Hãy hỏi ngay để nhận câu trả lời.